Căn bệnh vùng kín tế nhị của ông vua Pháp


can-benh-vung-kin-te-nhi-cua-ong-vua-phap

Vua Henry II. Ảnh: en.wikipedia.

Henry II (31/ 3/1519 – 10/7/1559) làm vua nước Pháp từ năm 1547 đến khi băng hà. Ông là con của Vua François I. Năm 1533 vì muốn thắt chặt mối giao hảo với Italy nên vua Pháp đã cho Henry kết hôn với công chúa Italy là Catherine de Médicis khi cả hai đều ở tuổi 14. Sau 10 năm chung sống họ vẫn không thể có con với nhau do Henry bị dị tật cong dương vật, lỗ tiểu thấp rất nặng. Mãi đến khi được bác sĩ Jean Fernel chữa khỏi, Henry mới phục hồi được chức năng đàn ông như bình thường và có tới 10 đứa con với Catherine.

Thạc sĩ, bác sĩ Mai Bá Tiến Dũng, Trưởng Khoa Nam khoa, Bệnh viện Bình Dân, TP HCM, giải thích dị tật lỗ tiểu thấp (hypospadias) là dị dạng bẩm sinh ở dương vật do sự phát triển không đầy đủ của niệu đạo trước. Tỷ lệ thường gặp từ 1/300 đến 1/500 nam giới. Bệnh có 3 đặc điểm chính: lỗ tiểu đổ thấp ở bụng dương vật và dương vật bị cong ở các mức độ khác nhau, có thể thiếu da mặt bụng dương vật.

Lỗ tiểu thấp đã được nhận biết từ thế kỷ thứ hai. Người đầu tiên ghi nhận dị tật này là Galen (130-199), một thầy thuốc của các đấu sĩ ở Roma. Ông miêu tả rằng những nam giới bị lỗ tiểu thấp không có khả năng có con do miệng sáo lệch khỏi đỉnh dương vật và do dương vật bị cong làm cho tinh trùng không được phóng ra theo đường bình thường chứ không phải do không có tinh trùng.

Lịch sử châu Âu thế kỷ 16 từng ghi nhận một vụ việc khác về lỗ tiểu thấp. Vào năm 1542 một người phụ nữ ở Roma tên là Mathia đã hủy hôn vì chồng bị lỗ tiểu thấp, dương vật quá ngắn và cong.

Dị tật lỗ tiểu thấp gây rất nhiều phiền toái cho nam giới. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ít có triệu chứng liên quan đến lỗ tiểu thấp. Trong khi trẻ lớn và người trưởng thành bị dị tật này thường phàn nàn về hình dạng tia nước tiểu và cách đi tiểu. “Súng” cong còn gây gập bụng dương vật, cản trở giao hợp, thậm chí những người bị dị tật thể bìu dương vật hoặc thể tầng sinh môn phải tiểu ngồi, có nguy cơ gây vô sinh. Hầu hết bệnh nhân phàn nàn về hình dáng bất thường của “cậu nhỏ” do thiếu hoặc không có da bụng dương vật.

Kể từ lần đầu tiên dị tật lỗ tiểu thấp được phát hiện đến nay, các nhà khoa học không ngừng tìm tòi và nghiên cứu những phương pháp mới để điều trị và phục hồi chức năng sinh lý bình thường cho bệnh nhân. Các kỹ thuật tạo hình niệu đạo ra đời và bùng nổ vào giữa thế kỷ 19, có thể phân loại dựa theo chất liệu sử dụng như:

– Dùng da hoặc niêm mạc tại chỗ cuộn ống: Năm 1874, Duplay lần đầu tiên khâu mép hai vạt da dọc hai bên máng niệu đạo với nhau tạo thành ống niệu đạo.

– Dùng vạt da có cuống mạch nuôi dưỡng: Thường dùng niêm mạc quy đầu để cuộn ống và xoay xuống bụng dương vật để nối với miệng sáo. Broadbent và Des Prez là những người đầu tiên dùng thuật ngữ vạt hình đảo (Island flap) năm 1961. Kỹ thuật này được Duckett phát triển đỉnh cao năm 1980. Các phương pháp dùng vạt da bụng dương vật có chân nuôi lật ngược của Mathieu hoặc dùng vạt da cuốn ống lật ngược của Mustard cũng được giới thiệu áp dụng.

– Tạo hình niệu đạo bằng vạt da hoặc niêm mạc tự do. Kỹ thuật tạo hình niệu đạo bằng vạt niêm mạc bao quy đầu tự do được Nove Joserand tiến hành từ năm 1897. Sau đó Devine và Horton phát triển vào những năm 1960. Tạo hình niệu đạo bằng niêm mạc bàng quang tự do được Memmelaar sử dụng năm 1947, sau đó là Marshall và Molland.

– Giải phóng và kéo niệu đạo trong một đường hầm qua đầu niệu đạo được Beck tiến hành năm 1898. Sau đó Bpaderock và Mc Gowan Magpi tiếp tục phát triển.

– Dùng vạt da bìu tạo hình niệu đạo được Bouisson bắt đầu áp dụng năm 1860. Sau đó tiếp tục phát triển bởi Moutet, Woood và Landerer.

>> Xem thêm


Thi Trân

27 July 2016 | 4:25 am

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *